Welcome to Evently

Lorem ipsum proin gravida nibh vel veali quetean sollic lorem quis bibendum nibh vel velit.

Evently

Stay Connected & Follow us

Simply enter your keyword and we will help you find what you need.

What are you looking for?

Good things happen when you narrow your focus
Welcome to Conference
Image Alt

TS. Michael Waibel

TIỂU SỬ

TS. Michael Waibel đang là nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên và trưởng dự án tại Khoa Địa lý Nhân văn của Đại học Hamburg kể từ năm 2007. Ông là Trợ lý nghiên cứu tại Khoa Địa lý Nhân văn của Đại học Göttingen từ năm 1996 đến năm 2007. Trong thời gian 1996 – 2001, ông công tác trên cương vị Giảng viên thỉnh giảng và làm Trợ lý Giáo sư từ năm 2001 – 2007.
Ông có bằng Tiến sĩ chuyên ngành Địa lý Nhân văn và bằng Thạc sĩ chuyên ngành địa lý kinh tế, địa lý và kinh tế quốc dân với chuyên môn chính là đô thị hoá, nhà ở, quản lý đô thị, lối sống đô thị, phương pháp tăng trưởng xanh, địa lý năng lượng, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và các chiến lược giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Ông có 24 năm kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật, tham vấn và phát triển năng lực tại Đông Nam Á cũng như Đông Á. Năm 2001 ông công bố luận án Tiến sĩ về phát triển đô thị tại Hà Nội, Việt Nam.

Từ năm 2007 đến 2009, ông phụ trách nhiều vị trí như chuyên gia tư vấn cho dự án Chương trình Kế hoạch Môi trường Đô thị Việt Nam (VN-UEPP) do EU tài trợ. Cũng trong năm 2009, ông đại diện cho Tập đoàn PPJ (Posco E&C, Perkins & Eastman, JINA Architects) trở thành chuyên gia tư vấn khoa học về Triển khai cho Quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội tới năm 2030, tầm nhìn tới 2050.
Từ năm 2007 đến 2014, ông là Trưởng dự án “Siêu đô thị – Những thách thức to lớn: Động lực không chính thức của sự thay đổi toàn cầu” thuộc Chương trình ưu tiên 1233 của Quỹ Nghiên cứu Đức (DFG SPP 1233). Trong phạm vi chương trình này, ông đã nghiên cứu các câu hỏi về quản trị đô thị liên quan đến nâng cấp không gian kinh tế ở Trung Quốc.
Hơn nữa, ông cũng được công nhận là đối tác trong chương trình nghiên cứu 5 năm “Nghiên cứu về sự phát triển bền vững của các siêu đô thị của tương lai, năng lượng và các cấu trúc hiệu quả khí hậu trong các trung tâm phát triển đô thị” được tài trợ bởi Bộ Nghiên cứu và Giáo dục Liên bang Đức (BMBF) từ 2008-2013, Tiêu đề của chương trình “Dự án Nghiên cứu Siêu đô thị ở TP. Hồ Chí Minh”. Trong dự án này, Tiến sĩ Michael đã điều phối Nhóm dự án “Nhà ở thích nghi với khí hậu và các toà nhà sử dụng năng lượng hiệu quả”. Các kết quả nổi bật trong dự án hoạt động của ông là việc cho ra mắt cuốn “Sổ tay Ngôi nhà Xanh” năm 2011 và “Sổ tay Sản phẩm Xanh” năm 2013, cả hai phiên bản Việt và Anh .
Năm 2017, Tiến sĩ Waibel đã trở thành đối tác của Bộ Nghiên cứu và Giáo dục Liên bang Đức (BMBF) – nơi tài trợ cho Dự án CLIENT “CAMaRSEC: Nghiên cứu vật liệu thích nghi với khí hậu trong bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam”.Trong dự án kéo dài 3 năm này, Tiến sĩ Waibel đang điều phối Nhóm dự án “Quản trị các Toà nhà bền vững”.
Kể từ năm 2017, Tiến sĩ Waibel là trưởng nhóm dự án “Xây dựng vì người dân: Các Toà nhà bền vững cho mọi người – Thúc đẩy chất lượng cuộc sống đô thị ở Campuchia”. Ông cũng là trưởng dự án và hướng dẫn nhóm Dự án “Chuyển đổi đô thị bền vững” và “Phối hợp và Phổ biến Truyền thông”.

CHỦ ĐỀ

Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà tại Việt Nam: Tầm nhìn, Chính sách, kinh nghiệm triển khai và các công nghệ hiệu quả

TÓM TẮT

Khí thải nhà kính từ các toà nhà chiếm 19% tổng khí nhà kính từ lĩnh vực năng lượng toàn cầu và tiêu thụ 40% lượng điện năng toàn cầu. Theo Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC), nhu cầu điện ở Việt Nam tăng trung bình 13% hàng năm kể từ năm 2000 và dự báo sẽ tăng hơn 8% từ nay đến năm 2030. Khí thải nhà kính từ Ngành xây dựng của Việt Nam cũng tăng 12% hàng năm, một trong những tỉ lệ cao nhất thế giới. Với số lượng lớn các công trình xây dựng, Việt Nam có tiềm năng lớn để thúc đẩy các toà nhà bền vững, đặc biệt trong việc ứng phó với các hậu quả của biến đổi khí hậu.

Mục tiêu chính của bài thuyết trình này là có cái nhìn sâu hơn tới hệ thống quản trị để thúc đẩy sự phát triển của các toà nhà bền vững ở Đức và thảo luận các kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi. Góc tiếp cận từ phía Đức được đặc biệt quan tâm sở dĩ bởi ngành xây dựng là lĩnh vực chính sách thành công nhất trong việc hoàn thành các mục tiêu bền vững . So sánh với số liệu năm 1990, khí thải nhà kính ở Đức đã giảm tới 44% đến năm 2018. Trước tiên sẽ là yếu tố về các bên liên quan chủ chốt và sự tương tác, phối hợp giữa các chính sách và quy định của Đức. Điều này cho thấy rằng câu chuyện thành công của nước Đức không chỉ bắt nguồn từ cách tiếp cận công nghệ mà còn xuất phát từ sự kết hợp cân bằng giữa các quy định từ cấp cao và các chính sách của các bên liên quan được đưa từ cấp thấp lên trên bao gồm chính phủ, nền kinh tế và xã hội.

Phần tiếp theo của bài thuyết trình sẽ tiếp tục làm rõ việc thúc đẩy xây dựng các toà nhà sử dụng năng lượng hiệu quả. Ví dụ, tất cả các dự án xây dựng nhà cửa và hầu hết các toà nhà ở Đức đều phải tuân theo quy định sử dụng năng lượng hiệu quả của quốc gia (EnEV). Các yêu cầu của EnEV thường được siết chặt dựa trên tiến đ ộ công nghệ. Chúng tôi cũng sẽ nhấn mạnh rằng các chính sách khuyến khích như các ưu đãi kinh tế và tài khóa (hệ thống thuế, tài trợ, chế độ thưởng và phạt) được chứng minh là có hiệu quả nhất ở các nước phương Tây trong thời gian trước đây: Kreditanstalt für Wiederaufbau (KfW) đã rất thành công trong việc cấp các khoản vay ưu đãi và trợ cấp đầu tư cho những người mua nhà muốn làm cho ngôi nhà mới của họ (hoặc những người muốn tân trang lại ngôi nhà của họ) tiết kiệm năng lượng hơn so với yêu cầu hiện tại của EnEV. Những khuyến khích kinh tế là một công cụ rất hiệu quả để thuyết phục mọi người hành động vì môi trường . Ngoài ra, các giấy chứng nhận năng lượng bắt buộc cho các tòa nhà nhằm minh bạch hoá hiệu suất năng lượng cá nhân trên một đơn vị dân cư đã được chứng minh là công cụ thị trường giá trị có tác động đến quyết định đầu tư vào sử dụng năng lượng hiệu quả của mọi người.

Tuy nhiên, để áp dụng cách tiếp cận toàn diện của Đức cho Việt Nam, cần phải cân nhắc nhiều vấn đề. Ví dụ, hướng dẫn kỹ thuật cần phải đi đôi với các biện pháp giáo dục và khả năng xây dựng giữa các bên liên quan như kiến trúc sư, kỹ sư, kiểm toán năng lượng và bộ máy nhà nước. Cơ chế thị trường nên được tận dụng để khuyến khích xây dựng bền vững. P hí và thuế cao hơn cho các công trình và sản phẩm xây dựng không bền vững nhằm thúc đẩy các sản phẩm và hoạt động bền vững. Ngoài ra, nhà nước có thể hỗ trợ các ngành tự nguyện đưa ra các quy định cho mình . Các chính sách nhằm thúc đẩy các tòa nhà bền vững không chỉ tập trung vào sử dụng năng lượng hiệu quả, mà còn cần tập trung vào tính lâu bền và sự an toàn . Cuối cùng, cần phải quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ giữa người dùng và năng lượng bởi vì việc sử dụng năng lượng trong các tòa nhà với các đặc điểm hệ thống tương đồng có thể phân biệt theo hệ số 4 . Do đó, các kiến thức mới về cách thay đổi hành vi của người tiêu dùng một cách hiệu quả đã và đang được khai thác hiện thức hoá hiệu quả (ví dụ bằng cách sử dụng mục đích nội tại của người dùng, giáo dục và trao đổi thông tin).